Phải làm gì trước hiện tượng các tập đoàn Thái Lan ồ ạt vào Việt Nam?

Việc vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tăng vọt lên mức kỷ lục 22,76 tỷ USD trong năm 2015 và dự báo trong năm 2016 sẽ tiếp tục phá kỷ lục này, đang tạo nên một áp lực cực lớn có thể làm biến đổi trật tự và cách thức vận hành của nền kinh tế. Áp lực này có thể tạo ra những xáo trộn lớn đến sự ổn định xã hội thông qua sự tác động đến cách vận hành của nền kinh tế. Và đã đến lúc Việt Nam cần phát triển nền kinh tế bản thể, như một sự đảm bảo một nền móng bền vững cho quá trình hội nhập toàn diện trong những năm tới.
Nền kinh tế bản thể là gì?
Về cơ bản, nền kinh tế của một quốc gia luôn được tạo thành từ hai thành tố chính: thị trường nội địa và thị trường nước ngoài. Nền kinh tế một quốc gia có thể tăng trưởng bằng cách phát huy tối đa hiệu quả của hai bộ phận chủ đạo trên, với thị trường nước ngoài là tăng cường xuất khẩu và đầu tư trực tiếp, còn với thị trường nội địa là khai thác tiềm năng tiêu dùng nội địa mà một số quốc gia đang phát triển như Trung Quốc đang hướng đến.
Nền kinh tế bản thể được xây dựng dựa trên tiềm năng tiêu dùng nội địa ấy. Khi nền kinh tế thế giới giảm tăng trưởng, khiến xuất khẩu và đầu tư ra nước ngoài gặp khó khăn, thì sự ổn định của nền kinh tế bản thể dựa trên sức tiêu dùng nội địa luôn là chìa khóa để tránh cho nền kinh tế của một quốc gia rơi vào khủng hoảng.
Nói cách khác, nền kinh tế bản thể là chiếc van an toàn đảm bảo cho sự ổn định nền kinh tế một quốc gia. Điển hình cho sự thành công trong việc xây dựng nền kinh tế bản thể là Nhật Bản. Nước Nhật rơi vào khủng hoảng tài chính cuối những năm 1980, khiến cho tăng trưởng kinh tế giảm đáng kể, hàng loạt tập đoàn lớn bị đình trệ xuất khẩu, nhưng nền kinh tế nội địa Nhật vẫn rất ổn định và gần như không chịu những xáo trộn lớn. Đó là nhờ vào nền kinh tế bản thể của Nhật được xây dựng rất vững chắc. Trong số các nền kinh tế lớn trên thế giới chịu những tác động nghiêm trọng từ cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ 2007 và khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 thì Nhật là nước ít chịu tác động nhất nếu so với các nền kinh tế lớn khác như Đức, Anh hay kể cả là Trung Quốc.
Điều tạo nên sự ổn định của nền kinh tế bản thể là nhờ vào sự ổn định của bộ máy vận hành nền kinh tế nội địa. Khi phần lớn nhu cầu hàng hóa sản phẩm của thị trường nội địa được các doanh nghiệp trong nước cung cấp, tạo thành một vòng tròn khép kín, và rất ít chịu tác động từ những biến động kinh tế bên ngoài, thì khi đó nền kinh tế bản thể được hình thành với nền tảng vững chắc.
Nền kinh tế bản thể ở Việt Nam
Trong nhiều năm trở lại đây, nền kinh tế bản thể ở Việt Nam hầu như chỉ nhận được sự quan tâm khá hạn chế. Việc Việt Nam quá chú trọng đến thu hút vốn đầu tư nước ngoài FDI trên thực tế chỉ tập trung ở khu vực nền kinh tế hướng ngoại, trong đó các doanh nghiệp FDI đến Việt Nam lập nhà máy và sản xuất hàng hóa để xuất khẩu sang các thị trường lớn như Mỹ và EU.
Số doanh nghiệp FDI tập trung chiếm lĩnh thị phần hàng hóa của thị trường nội địa ít hơn nhiều so với số doanh nghiệp FDI tập trung vào xuất khẩu. Đó là lý do vì sao 96% số doanh nghiệp Việt Nam là thuộc loại nhỏ và siêu nhỏ, vì khoảng trống trong thị trường nội địa vẫn còn rất nhiều, đủ chỗ cho những nhà cung cấp hàng hóa nhỏ lẻ.
Tuy nhiên, điều đó sẽ không còn kéo dài lâu nữa trong tương lai gần. Đã có những dấu hiệu cảnh báo nền kinh tế bản thể của Việt Nam đang dần bị thâu tóm bởi các doanh nghiệp nước ngoài. Việc Việt Nam gia nhập các hiệp định thương mại như TPP hay các FTA đúng là đang khiến vốn FDI đổ vào Việt Nam tăng lên đáng kể, hầu hết trong đó là muốn tận dụng các lợi thế mà Việt Nam sẽ nhận được từ các hiệp định thương mại này. Phần lớn trong số đó là các doanh nghiệp FDI thuộc lĩnh vực xuất khẩu, họ sẽ đến Việt Nam lập nhà máy để tận dụng lợi thế nhân công giá rẻ và thuế suất rất thấp mà TPP đã quy định để tăng cường xuất khẩu hàng hóa sang thị trường các nước TPP và các nước đã ký FTA với Việt Nam. Nhưng không phải tất cả đều như vậy.
Trên thực tế, đã có một làn sóng đầu tư kiểu khác vào thị trường Việt Nam trong thời gian qua, đó là tìm cách thâu tóm và sáp nhập các doanh nghiệp hàng đầu trong nước, mà các tập đoàn của Thái Lan là một ví dụ điển hình. Trong số các vụ mua bán và sáp nhập doanh nghiệp (M&A) có giá trị lớn trong suốt vài năm gần đây ở Việt Nam thì hầu hết người thực hiện đều là các tập đoàn và tỷ phú Thái Lan. Điển hình như thương vụ Central Group chi 100 triệu USD để mua 49% vốn điều lệ của Nguyễn Kim, một trong những tập đoàn bán lẻ lớn nhất Việt Nam; hay tập đoàn Siam Cement Group chỉ trong vỏn vẹn có 5 tháng có mặt tại thị trường Việt Nam đã tiến hành hơn 20 vụ M&A.
Hầu hết các doanh nghiệp lớn đầu ngành trong nhiều lĩnh vực ở Việt Nam đều nằm trong tầm ngắm của các tập đoàn Thái Lan, chẳng hạn như Siam Cement Group đặt nhựa Tiền Phong, nhựa Bình Minh vào tầm ngắm, tập đoàn này cũng vừa hoàn tất vụ mua lại Prime Group để trở thành thế lực lớn nhất trong ngành sản xuất vật liệu xây dựng tại Việt Nam với hơn 20% thị phần trên thị trường.

hang-thai-lan-4656-1451460547

Việc các tập đoàn Thái Lan chọn cách thâu tóm các doanh nghiệp nội địa lớn của Việt Nam thay vì đầu tư nhà xưởng máy móc thiết bị như các doanh nghiệp FDI lớn khác, là do người Thái không hướng đến việc tận dụng cơ hội xuất khẩu, mà là chiếm lĩnh thị trường nội địa giàu tiềm năng của Việt Nam. Có thể thấy, người Thái đã khôn ngoan khi chọn một phân khúc đầu tư khác thay vì chạy đua công nghệ sản xuất hiện đại vốn không phải là điểm mạnh của các doanh nghiệp Thái Lan.
Bằng cách thâu tóm các doanh nghiệp nội địa lớn đang có thị phần lớn tại thị trường nội địa Việt Nam, các tập đoàn Thái đang hướng tới việc thu lợi từ việc khai thác thị trường nội địa giàu tiềm năng của Việt Nam. Vì thực tế là sau khi các doanh nghiệp FDI đổ bộ vào Việt Nam sau khi ký kết TPP và các FTA, thì thu nhập bình quân của người Việt Nam sẽ tăng lên đáng kể. Nó sẽ dẫn đến tăng tổng cầu của thị trường nội địa, và đây mới là thứ người Thái nhắm đến.
Điều này đồng nghĩa với việc nền kinh tế bản thể của Việt Nam đang dần lọt vào tay các ông chủ nước ngoài, thay vì chủ yếu vẫn do các tập đoàn và doanh nghiệp nội cung cấp như trước. Nếu nhìn nhận vấn đề bi quan một chút, thì nền kinh tế Việt Nam đang bị xâu xé bởi các doanh nghiệp FDI: Giá trị gia tăng mà Việt Nam kiếm được từ khối FDI xuất khẩu chủ yếu vẫn là gia công vốn có hàm lượng giá trị rất thấp, phần lớn lợi nhuận thu được các doanh nghiệp FDI sẽ chuyển về nước mình; và khi mà thị trường nội địa lại nằm trong tay các ông chủ nước ngoài thì phần gia tăng nhỏ bé ấy phần lớn cũng sẽ không nằm lại ở Việt Nam thông qua việc mua sắm và tiêu dùng nội địa.
Trong tương lai, đây có thể không phải là một viễn cảnh tươi sáng cho nền kinh tế Việt Nam, khi mà cả nền kinh tế xuất khẩu lẫn nền kinh tế nội địa đều phụ thuộc phần lớn vào các doanh nghiệp nước ngoài. Khi đó, chỉ cần một biến động dù là rất nhỏ của nền kinh tế thế giới cũng đủ để khiến nền kinh tế Việt Nam bị ảnh hưởng nặng nề. Cái gì đến nhanh thì thường không vững bền, các doanh nghiệp FDI có lẽ cũng như vậy.
Theo Một Thế Giới

10 chiến lược đơn giản để tăng lợi nhuận

1. Nhu cầu: hãy bán những thứ Khách hàng cần, đừng bán những thứ ta đang có. Điều này luôn luôn đúng hàng thế kỷ nay. Hãy áp dụng nguyên tắc “bán trước sản xuất sau”.
2. Khác biệt để dẫn dắt thị trường: sản phẩm và dịch vụ cần phải được cải tiến đổi mới để tạo ra sự khác biệt, hấp dẫn đám đông trên thị trường. Nếu không có sự khác biệt, không ai nhận ra chúng ta và lúc đó ta sẽ chết.
3. Sử dụng đòn bẩy: hãy sử dụng đòn bẩy để nâng cao, nhân rộng vốn đầu tư của chúng ta. Sử dụng những đòn bẩy về vật chất cũng như về tinh thần để mang lại những thứ ta cần có nhằm phục vụ phát triển kinh doanh.
4. Con Ngỗng Đẻ Trứng Vàng: khi ta có 3 yếu tố trên, khách hàng đặt hàng ngày càng nhiều. Lúc đó ta có những sản phẩm, dịch vụ là những con ngỗng đẻ trứng vàng. Hãy chăm sóc những con ngỗng này, đừng ăn thịt chúng. Đồng thời, ta cũng cần phải biết khi nào thì ngừng và loại bỏ con ngỗng đó.

TDC

5. Không có gì là hoàn hảo: trên đời này không có gì là hoàn hảo, con ngỗng đẻ trứng vàng có lúc cũng phải chết, có lúc cũng phải suy tàn. Đừng say mê với chiến thắng, hãy luôn luôn cải tiến và đổi mới để tạo ra những con ngỗng khác hoặc những đàn ngỗng để đem lại sự phát triển của doanh nghiệp. Nếu mọi việc là hoàn hảo, thì chẳng còn ý nghĩa gì nữa, lúc đó ta sẽ chẳng còn việc gì phải làm và thị trường sẽ đào thải ta ra khỏi cuộc chơi.
6. Tập trung và lắng nghe khách hàng: để cải tiến, đổi mới sản phẩm và dịch vụ, chúng ta thực sự phải lắng nghe, thấu hiểu khách hàng, chứ không phải là đoán mò điều mong đợi của khách hàng. Lãnh đạo và các cấp quản lý, định kỳ phải ra thị trường để lắng nghe khách hàng và nhìn thấy khách hàng sử dụng cụ thể sản phẩm và dịch vụ của mình. Từ đó ta có thể cải tiến và đưa ra những thứ khách hàng thực sự cần như đã nêu ở điều 1.
7. Sự tham gia của mọi người với tinh thần làm chủ: để thực sự lắng nghe, cải tiến và đổi mới, mọi người trong công ty phải tham gia với tinh thần làm chủ trong công việc của mình. Nếu họ thật sự tham gia, chắc chắn họ sẽ cam kết thực hiện. Vì vậy lãnh đạo của doanh nghiệp cần phải đảm bảo xây dựng môi trường làm việc gắn kết và khuyến khích tinh thần làm chủ trong công việc.
8. Nhân rộng sự thành công: điều gì thành công trong công ty, cần phải được bảo vệ và nhân rộng toàn công ty, toàn khu vực thị trường… Hãy xây dựng hệ thống quản lý theo ISO 9001:2015, HACCP, BRC… tùy theo loại hình kinh doanh của mình để nhân bản các điều thành công đó.
9. Tạo ra sự khát khao mong đợi: hãy bắt chước Apple, Microsoft luôn tạo ra sự khát khao mong đợi trên thị trường về sản phẩm mới, sắp được tung ra, sắp có mặt tại thị trường. Con người thì luôn kỳ vọng, khao khát mong đợi những điều mới. Hãy học tập sự cải tiến và đổi mới sản phẩm, dịch vụ theo phương pháp của người Do Thái.
10. Quản trị rủi ro: chẳng có ai thành công mãi, đời có lúc “lên voi xuống chó”. Hãy dự định những rủi ro có thể gặp phải, tiên đoán trước những điều nguy hại và đưa ra hành động phòng ngừa. Ngoài ra cũng phải tiên đoán các cơ hội để nắm bắt và khai thác. Quản trị rủi ro thực sự là một công cụ bảo vệ và chống lại sự xói mòn lợi nhuận trong doanh nghiệp. Đây cũng là yêu cầu mới trong ISO 9001:2015.
Tp HCM, 5/01/2016
MBA Trần Đình Cửu

CHỈ SỐ HIỆU QUẢ LAO ĐỘNG TOÀN DIỆN

OLE – Overall Labor Effectiveness

CHỈ SỐ HIỆU QUẢ LAO ĐỘNG TOÀN DIỆN

effectiveness

 

Công thức OLE: OLE = A x P x Q

 A (Available): gọi là chỉ số sẵn sàng làm việc

Công thức A:

1
P (Performance): gọi là chỉ số năng suất. 

Công thức P:

2
Q (Quality): gọi là chỉ số chất lượng công việc. 

Công thức Q:

3

 

Ví dụ 1: Tính OLE theo tuần của chức danh Trưởng phòng Kinh doanh? 

–      Lượng thời gian kế hoạch phải làm việc trong tuần: 5 ngày

–      Lượng thời gian thực tế làm việc trong tuần: 4 ngày.

–      Số lượng công việc Ban Giám Đốc yêu cầu phải hoàn thành trong tuần: 10 việc

–      Số lượng công việc thực tế hoàn thành trong tuần: 9 việc

–      Số lượng công việc hoàn thành đạt yêu cầu của Ban Giám Đốc: 8 việc

Vậy OLE theo tuần của  Trưởng phòng Kinh doanh được tính như sau:

4

> OLE = 64,08%

Kết luận: Trong tuần vừa qua, Trưởng phòng Kinh doanh đạt được 64,08% chỉ số hiệu quả lao động toàn diện (điều đó có nghĩa là 35,92% là lãng phí)

Ví dụ 2:Tính OLE theo ngày của một Công nhân bảo trì máy móc?

–      Lượng thời gian kế hoạch phải làm việc trong ngày:  8 giờ

–      Lượng thời gian thực tế làm việc trong ngày: 8 giờ.

–      Số lượng công việc phải sửa chữa hoàn thành trong ngày: 10 việc

–      Số lượng công việc sửa chữa thực tế hoàn thành trong ngày: 8 việc

–      Số lượng công việc sửa chữa hoàn thành đạt yêu cầu của Trưởng bộ phận:  7 việc

Vậy OLE theo ngày của Công nhân bảo trì máy móc được tính như sau:

5

> OLE = 70%

Kết luận: Trong ngày vừa qua, Công nhân bảo trì máy móc đạt được 70% chỉ số hiệu quả lao động toàn diện (điều đó có nghĩa là 30% là lãng phí)

 Chú thích:

6

Tp HCM, 31/12/2015
MBA Trần Đình Cửu

 

HÃY TỬ TẾ TRONG KINH DOANH

Theo Abraham Joshua (1907 – 1972), là một Triết gia và là Giáo sĩ người Do Thái có nói: “Khi còn nhỏ, tôi từng ngưỡng mộ người thông minh, khi lớn hơn, tôi ngưỡng mộ người tử tế”.

Untitled 2

Vì vậy, trong kinh doanh, các doanh nghiệp cần tập trung đảm bảo chất lượng đầu ra đối với sản phẩm dịch vụ của mình, luôn luôn ổn định, đáp ứng yêu cầu khách hàng, đó là một hành động tử tế, sẽ khiến cho khách hàng ngưỡng mộ. Đồng thời cũng là yếu tố sống còn, tạo lợi nhuận bền vững cho doanh nghiệp trong bối cảnh kinh doanh hiện nay tại Việt Nam.
Nhà văn người Mỹ, Mark Twain (1834 – 1910) có đề cập: “Sự tử tế là ngôn ngữ mà người điếc có thể nghe được và người mù có thể thấy”.
Còn Henry James (1843 – 1916), là Nhà văn sinh ra ở Mỹ cho biết:
“Trong cuộc sống, con người có ba điều quan trọng.
Thứ nhất là tử tế
Thứ hai là tử tế
Và thứ ba là tử tế.”

Untitled

Do đó, Doanh nghiệp cam kết và thực hiện chất lượng ổn định đáp ứng yêu cầu khách hàng tức là cứu chính mình.
Tp HCM, 25/12/2015
MBA Trần Đình Cửu

Chuyên gia nước ngoài ở Việt Nam dễ kiếm tiền nhất khu vực

Phần lớn các chuyên gia nước ngoài cho biết thu nhập khả dụng tăng lên và dễ có khả năng gia tăng tích lũy từ khi làm việc ở Việt Nam, theo HSBC.
Khảo sát mới đây của Ngân hàng HSBC, các chuyên gia nước ngoài sống tại Việt Nam có khả năng tiết kiệm, tích lũy cao nhất khu vực châu Á Thái Bình Dương. 67% cho biết thu nhập khả dụng của họ tăng lên và 68% nói họ có khả năng gia tăng tích lũy từ khi ở đây. 16% các chuyên gia làm việc ở Việt Nam cho biết họ có khả năng mua thêm bất động sản.
Tại Việt Nam, các chuyên gia nước ngoài chủ yếu làm việc trong các lĩnh vực như giáo dục, marketing và ngân hàng.

two-workers-techniciansa-8166-1449351877

Không riêng Việt Nam, theo HSBC, nhìn chung châu Á có thế mạnh về việc tăng khả năng tích lũy cho các chuyên gia. Tại Trung Quốc, 68% chuyên gia có mức thu nhập khả dụng tăng và 65% có thể tích lũy nhiều hơn so với khi họ còn ở nước mình. Điều này khiến Trung Quốc trở thành một trong những điểm đến để cải thiện tài chính cá nhân.
Không chỉ vậy, HSBC còn cho hay, chuyên gia nước ngoài sống tại châu Á Thái Bình Dương là những người được trả lương cao nhất trên thế giới với mức thu nhập bình quân hàng năm là 126.537 đôla Mỹ. Đây là nơi làm việc của 18% chuyên gia nước ngoài với mức lương vượt quá 200.000 đôla Mỹ một năm, tỷ lệ cao nhất trong các khu vực theo sau là Trung Đông với 16%. Đóng góp cho vị trí này chủ yếu do mức lương cao của các chuyên gia nước ngoài tại Hong Kong, Singapore và Trung Quốc.
Mặc dù vậy, 85% các chuyên gia sống tại Hong Kong nói họ chi tiêu nhiều hơn vào nơi ở so với khi họ ở tại nước mình; 67% vẫn gia tăng thu nhập khả dụng hơn kể từ khi lưu chuyển và 61% nói họ có khả năng tăng tích lũy. Tại Singapore, 65% các chuyên gia nói rằng mức thu nhập khả dụng của họ tăng và cứ 4 chuyên gia thì có một người đang sống ở Ấn Độ, Australia và Philippines nói họ có khả năng mua thêm bất động sản khi họ lưu chuyển.
Đối với các chuyên gia trẻ hơn, một vài thị trường châu Á cung cấp cơ hội về chỗ ở tốt hơn. Hơn một nửa số chuyên gia dưới 35 tuổi tại Indonesia (55%) và tại Ấn Độ (52%) chi tiêu ít hơn cho chỗ ở so với khi họ ở tại nước mình.
Báo cáo cũng cho thấy châu Á Thái Bình Dương có khả năng tạo lập cơ sở tài chính dễ nhất cho các chuyên gia có thu nhập cao, với 73% (trong tổng số tất cả các mức thu nhập) nói rằng thiết lập cơ sở tài chính dễ nhất ở New Zealand, theo sau là Singapore (63%) và Australia (56%).
Justin Bull, Giám đốc Tài sản cao cấp, Khối nghiên cứu Chuyên gia nước ngoài của HSBC tại Hong Kong nhìn nhận: “Châu Á đưa lại những cơ hội tốt nhất về tài chính, cho phép các chuyên gia nước ngoài nâng cao mức sống và đạt được phong cách sống mong muốn”. Trong khi đa số các chuyên gia tại đây là người Anh và người Mỹ, khảo sát của HSBC cũng cho thấy một bộ phận quan trọng các chuyên gia châu Á lưu chuyển nội vùng. Ví dụ, các chuyên gia Australia làm việc tại Trung Quốc và Việt Nam. Chuyên gia Ấn Độ làm tại Malaysia và Indonesia. Chuyên gia Philippines làm việc tại Malaysia và các chuyên gia Malaysia và Indonesia làm việc tại Singapore.
“Chúng tôi kỳ vọng làn sóng các chuyên gia châu Á làm việc nội vùng sẽ gia tăng cùng với tăng trưởng và sự hội nhập kinh tế trong vùng. Khi ASEAN tiến gần hơn tới việc thành lập cộng đồng kinh tế chung, nhu cầu về nhân lực có tay nghề sẽ tăng để có thể nâng cao tính cạnh tranh cho khu vực”, đại diện HSBC nói.
Thanh Thanh Lan

Cuộc chiến thanh toán điện tử của đại gia công nghệ

Samsung, Apple, Google và LG đều đã tham gia sân chơi với các dịch vụ riêng, được kỳ vọng thúc đẩy sự phát triển của thanh toán điện tử trên thế giới.
Hồi tháng 8, Samsung cho ra mắt dịch vụ thanh toán điện tử với tên gọi Samsung Pay, đã triển khai tại Hàn Quốc và Mỹ. Anh, Tây Ban Nha và Trung Quốc dự kiến là những đích đến tiếp theo trong tương lai gần. Dịch vụ này cho phép người dùng thanh toán bằng thiết bị di động của Samsung tại các máy hỗ trợ thẻ tín dụng.
Samsung nhấn mạnh rằng công nghệ của họ hỗ trợ nhiều loại máy quẹt thẻ hơn hẳn Apple Pay và Android Pay. Tuyên bố này như phát súng khơi mào cuộc chiến không hồi kết với không chỉ những đối thủ của họ, mà còn cả các phương pháp thanh toán truyền thống.

Samsung-pay-8865-1448963508

Ví điện tử ngày càng trở nên phổ biến kể từ khi Apple Pay ra đời năm 2014. Thị trường tiếp tục được mở rộng khi Google tung ra Android Pay năm nay. Một số hãng bán lẻ lớn, trong đó có Target và Walmart còn liên kết mở ví di động riêng, có tên Current C, dự kiến đưa vào sử dụng trong năm tới.
Cuối tháng 11, LG cũng tuyên bố ra mắt nền tảng thanh toán kỹ thuật số có tên LG pay. Dịch vụ của họ liên kết với các hãng thẻ trong nước, gồm Shinhan Card và KB Kookmin Card, và các ngân hàng nội địa. Trước mắt, LG Pay sẽ chỉ áp dụng tại Hàn Quốc, Tech Crunch cho biết.
Công nghệ ví điện tử sử dụng chip truyền dữ liệu gần (NFC) cho phép người dùng smartphone thực hiện thanh toán từ xa. Ví sẽ lưu trữ thông tin về thẻ tín dụng và gửi mã xác nhận tới smartphone của người nhận khi giao dịch diễn ra. Thanh toán vẫn được thực hiện trong khi số thẻ tín dụng hoàn toàn được bảo mật, không bị người bán nhìn thấy.
“Những loại ví di động như Apple Pay, Android Pay và PayPal dự định hợp nhất mọi thanh toán trên tất cả các kênh về một phương pháp thanh toán di động an toàn và dễ sử dụng. Việc thanh toán sẽ trở nên thuận tiện ở bất cứ đâu”, James Wester – Giám đốc hãng nghiên cứu IDC Financial Insights cho biết trên Fortune.

Apple-pay-8740-1448963509

Mỗi năm, hàng nghìn tỷ USD được sử dụng trong thương mại. Những công ty cung cấp ví điện tử sẽ nhận được một phần nhỏ với mỗi thanh toán được thực hiện qua dịch vụ này. Vì vậy, ví điện tử nếu tiếp tục phát triển sẽ mang về lợi nhuận khổng lồ.
“Sớm muộn gì thanh toán thông thường cũng sẽ hoàn toàn bị thay thế trong thời đại kỹ thuật số này. Tuy nhiên, thanh toán điện tử hiện vẫn chỉ có quy mô nhỏ ở nhiều nơi, nhất là ở những quốc gia chỉ chấp nhận tiền mặt hay người dân ưa gửi tiết kiệm ngân hàng”, Penny Gillespie – Giám đốc nghiên cứu của Gartner cho biết và khẳng định: “Thị trường ví di động vẫn còn non trẻ. Nói chung, người tiêu dùng không mấy hứng thú và cũng ít cửa hàng chấp nhận phương thức này”.
Dù vậy, các công ty lớn vẫn cố gắng thay đổi điều đó. Apple quảng bá dịch vụ của mình là “một cách đơn giản để thanh toán tại cửa hàng”. Google hứa hẹn người dùng sẽ có thể “mua sắm theo cách họ muốn”. Samsung tuyên bố hỗ trợ tại nhiều địa điểm hơn các đối thủ. Trong khi đó, Paypal và MCX cũng nuôi hy vọng với dịch vụ của mình.
Tuy nhiên, thành công cũng chỉ là khái niệm tương đối. Theo Wester, thanh toán qua ví điện tử tại cửa hàng được dự báo đạt 15 tỷ USD trên toàn thế giới trong năm 2015. Con số này có thể lên 57 tỷ USD năm tới, nhưng vẫn còn rất nhỏ so với toàn thị trường. “Vấn đề mà tất cả các loại ví điện tử phải đối mặt là liệu họ có thực sự mang lại lợi ích so với phương pháp cũ hay không. Thanh toán bằng thẻ tín dụng trong cửa hàng cũng chẳng phải phải quá bất tiện. Cam kết bảo mật của ví điện tử cũng sẽ bị hạn chế bởi người tiêu dùng không phải chịu trách nhiệm gì khi gian lận xảy ra”, Wester cho biết.
Vậy yếu tố nào sẽ giúp ví điện tử trở nên hấp dẫn hơn với người tiêu dùng? Theo Wester, đó chính là thương mại điện tử. Ông cho rằng nếu “khái niệm về thanh toán điện tử” được mở rộng để bao gồm những giao dịch kỹ thuật số, cơ hội cho các công ty sẽ “tăng lên 1.000 tỷ USD năm tới”, vượt xa con số 57 tỷ USD kiếm được từ giao dịch tại cửa hàng. “Lợi thế của ví điện tử nằm ở những giao dịch trực tuyến, nơi mà việc nhập số thẻ, tên và địa chỉ nhận hóa đơn… thực sự rất phiền phức”, ông nói.
Nhờ có những thương hiệu smartphone nổi tiếng, Apple Pay và Samsung Pay được hy vọng sẽ tăng lượng ví điện tử được sử dụng trong năm tới. Đầu tháng này, Juniper Researh dự đoán tới cuối năm 2016 sẽ có 200 triệu người dùng ví điện tử trên toàn thế giới, gấp đôi năm ngoái.
Tất cả những điều này làm dấy lên câu hỏi: Rốt cuộc thì ai sẽ thắng? Apple là công ty đi tiên phong, trong khi Google có lượng người dùng Android đáng gờm. Samsung Pay thì có lợi thế nhờ hỗ trợ đủ các loại máy thẻ tín dụng. Current C và PayPal lại đang khiến thị trường trở nên bão hòa. Rõ ràng, thời điểm này quá khó để khẳng định cái tên nào sẽ thống trị.
“Có vẻ Apple Pay và Android Pay đang lợi thế hơn bởi được tích hợp sẵn trên số lượng lớn smartphone. Dù chưa chắc chiến thắng, họ cũng đang ở vị thế cao hơn đối thủ một bậc. Các nhà cung cấp còn lại sẽ phải giải quyết vấn đề là làm thế nào để người dùng chịu sử dụng một hệ thống riêng biệt”, Wester nhận định. Tóm lại, đây vẫn là cuộc chơi dành cho tất cả mọi người.
Hà Tường